Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Phật và Thượng đế - Từ bụi đời đến phiền não

Share |



Có những vị bác sĩ bị áp lực bởi công việc của gia đình, nghề nghiệp và xã hội, nên họ đã nhờ tôi chỉ bày cho họ “pháp an tâm”, để giúp cho họ vượt ra khỏi tình trạng bị áp lực bởi các công việc và đời sống của họ hàng ngày.
Họ hỏi tôi rằng, “pháp an tâm” có phải là tập trung tâm ý để theo dõi hơi thở phải không thầy? Tôi nói phải mà cũng không phải.
Phải là vì tâm ta vọng động, nên cần phải có phương pháp thực tập cụ thể để đưa tâm trở về lại với trạng thái an tịnh của chính nó. Nên, thực tập theo dõi hơi thở chỉ là một trong nhiều phương pháp thực tiễn giúp tâm an tịnh, chứ không phải nó là duy nhất và tất cả.
Không phải, là vì tâm ta vọng động theo duyên, nên nó cực kỳ linh hoạt và bén nhạy; và trong cuộc sống, ta bị áp lực nhiều phía, chứ không phải chỉ có một phía. Nên, khiến cho tâm ta bị chao đảo bởi nhiều tác duyên, chứ không phải chỉ là một tác duyên.
Vì vậy, ta phải tùy thuận các duyên, để đình chỉ sự vọng động của tâm, chứ không phải chỉ có một phương pháp hay một điều kiện cho tất cả.
Một bác sĩ bị bận rộn bởi những công việc hành chánh, thì ngay nơi công việc hành chánh ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ bận rộn bởi công việc trị liệu bệnh tâm thần cho bệnh nhân, thì ngay nơi việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị bệnh tim mạch cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị bệnh da liễu cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị tai mắt cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống,…
Tuy là cùng bác sĩ, nhưng nghiệp vụ, chuyên môn không có vị nào giống vị nào. Tuy là bệnh nhân tim mạch, nhưng nhân duyên sinh khởi bệnh tim mạch, cũng không có bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào, vì vậy bác sĩ điều trị bệnh nhân tim mạch không phải chỉ có một số kiến thức về tim mạch qua sách vỡ hay qua những trường lớp là đủ, mà phải trực tiếp với lâm sàng, và phải biết theo dõi diễn biến tăng giảm của bệnh nhân từng phút, từng giờ để điều trị cho thích ứng.
Cũng vậy, “pháp an tâm”, không phải chỉ có một phương pháp mà có đến tám vạn bốn ngàn phương pháp hoặc có đến vô lượng phương pháp để thực tập. Duyên nào đã tác động, khiến cho tâm ta không an, thì ngay ở nơi duyên ấy mà thực tập pháp an tâm.
Khi ta thực tập “pháp an tâm”, cần có đủ cả ba chất liệu gồm: Niệm, Giác, và Nguyện.
Niệm là ghi nhận rõ ràng những gì đang diễn ra nơi thân và tâm của ta, qua các cảm thọ do ý nghĩ và hành động đối với việc ta đang làm đem lại.
Giác là ta phải biết rất rõ và chính xác những gì ta đang nghĩ và đang làm, cũng như biết một cách chính xác các cảm thọ đang diễn ra do ý nghĩ và hành động đối với công việc của ta đang làm đem lại.
Nguyện nghĩa là ta làm bất cứ công việc gì là ta nguyện trong tâm ta, khiến tâm ta có đầy đủ hai chất liệu của Niệm và Giác để cùng hiện hữu với công việc ấy, ngay trong từng giây phút hiện tiền. Và ngay nơi công việc ấy, mà ta giác ngộ được tự thân thực tại, và cũng chính ngay nơi công việc ấy, mà ta thành tuệ giác vô thượng và thành tựu vô lượng công đức cho mình và cho người.
Như vậy, tâm ta mắc kẹt ở chỗ nào, thì ngay ở nơi chỗ đó mà tháo gỡ; tâm ta bất an ở chỗ nào, thì ngay ở nơi đó mà thiết lập sự an lạc; tâm ta thất niệm với cái gì, thì ngay nơi đó mà niệm, để tạo thành năng lượng của chánh niệm; tâm ta bất giác với cái gì, thì ngay nơi đó mà giác để tạo thành chất liệu của toàn giác, và khi ta làm bất cứ công việc gì, thì ta nguyện mà làm, và ta phải biết nuôi dưỡng nguyện ấy, bằng chất liệu của Niệm và Giác trong từng giây phút hiện tiền, ngay nơi công việc hàng ngày của ta.
Vì vậy, không có một pháp an tâm nào nhất định cho bác sĩ, kỹ sư, thương gia, chính khách, giáo sư, nông dân, người lớn hay trẻ em, nữ giới hay nam giới, tu sĩ hay cư sĩ mà vạn pháp đều tùy duyên, và ngay nơi vạn pháp tùy duyên ấy mà thiết lập Niệm, Giác và Nguyện, để chuyển hóa đời sống của nghiệp lực thành đời sống của nguyện lực, khiến cho ta thấy cái gì cũng xuyên suốt cả ngọn ngành nhân duyên, nghiệp quả, làm cái gì cũng dẫn sinh an lạc và thảnh thơi, xúc tiếp với cái gì, thì liền thấy rõ sự thật ngay ở nơi cái đó.
Nên, ta có bao nhiêu phiền não là ta có bấy nhiêu điều kiện để tu tập, để thực hành pháp an tâm và Đức Phật của chúng ta sẽ hiện ra từ giữa vô biên phiền não ấy.
Vậy, Đức Phật của chúng ta đang ở đâu, Ngài đang ở ngay trong bụi đời phiền não và kho tàng chánh pháp của Ngài cũng đang ở trong kho tàng vô biên phiền não của thế gian vậy.
Thích Thái Hòa
CÁI TƯ DUY THỰC DỤNG
Tai họa đến với con người chúng ta, không phải từ những suy tưởng siêu hình mà từ những suy tư thực dụng của khoa học.
Các nước phương Tây đã biến những suy tư khoa học, thành tư duy thực dụng, khiến cho môi trường sống của con người và loài vật càng ngày càng trở nên ô nhiễm và độc hại.
Khoa học thực dụng của Tây phương đã biến con người trở thành vô dụng của sự sống và đã khiến cho con người chạy đua và bám lấy sự sống một cách tội nghiệp, như những bầy thú chạy đua và bám lấy những khúc xương khô để khới gặm.
Trong xã hội thực dụng ấy, con người không còn là người nữa, con người là những dụng cụ giây chuyền để sản xuất, là một bộ phận sản xuất của nhà máy, của xí nghiệp, của nông trại. Với một xã hội như vậy, con người không còn có thì giờ để làm cha, làm mẹ, làm vợ chồng, làm anh em với nhau; không còn có thì giờ để suy tư về tốt và xấu; công việc cá nhân, gia đình, tình cảm, thể hiện đức tin, tất cả đều dồn vào ngày chủ nhật.
Và tất cả cuộc sống con người chỉ là vậy, thì những tư duy thực dụng của khoa học Tây phương đưa con người chúng ta đi về đâu? Phải chăng, chúng đang đẩy con người đi đến với đời sống vô cảm.
Bệnh vô cảm là cơn bệnh khủng khiếp nhất của con người, nó còn nguy hiểm hơn cả ngàn lần bệnh HIV.
Do bị mắc bệnh vô cảm, nên con người không còn biết sống là gì, không còn biết thiên nhiên là gì, có đâu mà có được những suy tư về sự sống, để có khả năng tiếp nhận sự sống một cách có ý nghĩa.
Vì tham lam, vì tư duy thực dụng, con người đã sử dụng khoa học kỹ thuật để bóc lột thiên nhiên, bóc lột loài vật, thực vật, đất đai và bóc lột đồng loại, khiến cho thế giới con người ngày càng trở nên bệnh hoạn và điên dại, và người chủ trương bóc lột ấy lại càng bệnh hoạn và điên dại hơn.
BIẾT LẬP ĐỨC
Càng văn minh vật chất, con người lại càng sinh ra những sinh hoạt hưởng thụ thấp kém và phiền toái.
Càng giàu có vật chất, con người lại càng sinh ra những lo lắng, sợ hãi, thất vọng và khổ đau.
Trong mọi sự sinh hoạt của xã hội con người, ta hiếm thấy xảy ra ở nơi một người, vừa giàu có vật chất mà lại vừa giàu có tâm hồn. Phần nhiều, người giàu có vật chất là người rất nghèo nàn về tâm hồn và rất dễ khiếm đức.
Nên, những bậc có trí trong đời, thường trọng đức mà khinh tài, nhưng những kẻ vô trí trong đời thì coi trọng tiền tài mà coi thường đức hạnh và nhân nghĩa.
Đức hạnh bị khinh thường, thì xảo trá điêu ngoa, gian dối phát triển, đạo đức xuống cấp, nhân cách hủ bại, thuần phong rách nát.
Nên, những bậc có trí trong đời dùng đức để lập thân. Họ biết lập đức trước khi lập thân và lập ngôn; kẻ ngu trong đời thì lập ngôn trên xảo trá và lập thân trên gian tà, khiến cho thân càng ngày càng sa đọa, và ngôn càng ngày càng trở nên nham hiểm và vô luân.
BÀN TAY THẢNH THƠI
Một người thương ta có gốc rễ từ lòng tham của họ, khiến cho ta không an lạc, không thảnh thơi và nếu ta thiếu chánh niệm tỉnh giác, năng lượng của sự thương yêu ấy thẩm thấu vào trong ta, làm cho ta sống trong giẫy giụa và chết trong thất vọng, khổ đau.
Và một người thương ta có gốc rễ từ hỷ và xả, khiến sự an lạc của ta sinh khởi một cách tự nhiên; giúp ta sinh khởi niềm tin, và khiến tuệ giác trong ta càng ngày càng sáng ngời, nên mỗi ngày đi qua là mỗi ngày làm cho sự tự do trong ta lớn lên, khiến cho ta nhìn cuộc đời bằng con mắt tự do, và mọi vật đều có sự thảnh thơi khi bàn tay ta chạm đến.
PHẬT VÀ THƯỢNG ĐẾ
Ta đã có thể gọi danh hiệu Đức Phật với một ngày cả ngàn lần, và ta cũng đã gọi tên Thượng Đế qua những đêm thâu cầu nguyện, nhưng tất cả các Ngài đều im lặng đối với ta, để cho hạt giống Phật trong tâm hồn ta sinh khởi và quyền năng sáng tạo của Thượng Đế trong ta biến thành hiện thực.
Khi trong đời sống của ta không còn vô minh, hận thù và quyết đoán sai lầm, thì ta là Phật. Và trong cuộc sống, ta có chủ quyền và có khả năng sáng tạo thì ta là Thượng Đế.
Như vậy, Phật và Thượng Đế không phải là ai xa lạ mà chính là tâm hồn trong sạch và khả năng sáng tạo trong mỗi chúng ta!
Thích Thái Hòa
( http://dotchuoinon.com ) ấn bản

BÀI ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI QUAN TÂM

một tờ kinh thiêng

một tờ kinh thiêng

ALBUM LỄ TANG THÂN PHỤ Thượng Tọa THÍCH THÁI HÒA

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn

Theo Dấu Chân Thầy

Phim Pictures "Con đường xưa Thầy đi" nhân ngày vào Gia Định-Saigon từ 01 đến 07- 3 - Tân Mão- 2011.

Lên đầu trang
Xuống cuối trang